Translate

Libellés

Affichage des articles dont le libellé est poésie. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est poésie. Afficher tous les articles

vendredi 5 août 2016

- Tốt đỏ mà đè tốt đen Kết nhất bội nhị là em phải đền. - Ứ ừ người ta đang đen, Không thèm chơi nữa, giả tiền tôi đây. - Ơ ơ, bêu chửa cô này Bị đè còn khóc giơ tay đòi tiền

Cám ơn anh Phạm Anh Dũng đã giới thiệu bài viết của Thuỵ Khê về một thi sĩ không thích cho người khác biết đến mình.

Cám ơn cô Thuỵ Khê đã cho đọc những bài viết rất lôi cuốn người yêu văn chương.

Và cám ơn quý anh chị đã yêu thích bài được lưu lại tại Blog này.

Caroline Thanh Hương photo 250px-Tam_Cuacutec1.jpg
 photo le-dinh-dieu.jpg

 Y Dịch Lê Đình Điểu

Thụy Khuê

Y Dịch Lê Đình Điểu
Một đời cất giấu hồn thơ




   
Mỗi Tết là một chuyển biến, là một lần đi. Mỗi người thân văn nghệ của tôi ra đi một cách khác nhau. Họ cũng không chết một cách "thông thường" như những người khác. Dường như với "người thường" một lần đi là vĩnh viễn, một đi không trở lại. Người văn nghệ đi nhưng vẫn còn một cái gì đó -ngoài thể xác- ở lại. Mỗi lần đọc bài thơ cũ xem bức tranh xưa là lại có "đối thoại", như thể người đi, kẻ ở chưa hề đoạn trở âm dương.
 Cuộc tạ từ họa sĩ Lê Thị Lựu thật đơn giản, tôi đến chào bà ở bệnh viện Antibes, vùng bờ biếc Côte d'Azur để mai lên đường về Paris, mừng bà bệnh tim đã đỡ, ngày mai sẽ ra viện. Không nghi ngờ gì đến chuyến đi sắp tới trong vài giờ nữa của bà, không mảy may nghĩ đến ngày mai không lại, chúng tôi đã tiêu dùng những giờ khắc cuối một cách rộng rãi, gần như xa xỉ. Bà cười, nụ cười đẹp như ảnh chụp thời xưa: nụ cười giai nhân mười tám trên đôi môi tám mươi. Bà vẫn kể những tâm sự dí dỏm như muốn múc cạn quá khứ của mình. Miền Lê Thị Lựu đã qua là mảnh đất trồng rất nhiều nghệ sĩ, bấy giờ đã thưa thớt, đã tan hàng nhiều lắm.
Bà nhắc tên những Thẩm Oánh, Tường Tam, Tường Lân trong màu sắc Mai Thứ, Lê Phổ, thành một hợp âm thủy tinh. Tiếng bà nổ ran trong đám học trò tinh nghịch Mai Thảo, Thúc Linh như một tổ khúc. Thế giới xưa trở về trong giao hưởng âm thanh, mầu sắc, tạo nên những bức ấn tượng đặc biệt, nửa mơ nửa thực, nửa hội họa nửa thi ca.
Tôi vẫn trách sao bà không viết hồi ký. Bởi cách tạo hình bằng âm thanh -ngoài bút vẽ- của bà có ma lực xoáy vào lòng người. Nhờ một cơ duyên may mắn, tôi là kẻ duy nhất được tham dự. Nói "duy nhất" bởi không ai lắng nghe chuyện bà như tôi. Không ai vừa nghe vừa thưởng thức cái đẹp trong âm thanh và màu sắc phát ra từ giọng nói ấy, tiếng cười ấy. Ông Tân, chồng bà, cũng hay kể những chuyện ly kỳ thời trẻ của hai người, thời 30-40, đối với tôi như một thế giới khác, một giấc mộng. Nhưng lạ là khi ông đi, kỷ niệm cũng trôi theo, không còn gì đọng lại. Bởi ông không phải là nghệ sĩ, ông không tạo được hoạt cảnh Ðồ Sơn với những nét chấm phá đậm nhạt, những đổi thay mầu sắc. Còn Ðồ Sơn, Sầm Sơn của bà, đã là một Ðồ Sơn, Sầm Sơn Lê Thị Lựu, như Ðoan Hùng Thế Lữ, như Long Giáng Khái Hưng. Nhưng vùng đất Thế Lữ, Khái Hưng đã nhiều người thăm viếng. Riêng mảnh trời Lê Thị Lựu đơn lạc của tôi, chưa mấy ai tạt vào.
*
Hội họa, đơn lạccái chết, Y Dịch Lê Đình Điểu, dường như cũng có đôi chút duyên nợ. Cả đời làm thơ. Cả đời giấu thơ mình. Nhiều người biết nhà báo Lê Đình Điểu, nhưng có mấy ai biết Y Dịch nhà thơ. Bà cụ anh kể: Hồi nhỏ Ðiểu giấu thơ trên nóc nhà.
 Điểu chối tội thơ. Như thể làm thơ là một tội. Nếu biết tôi đang viết những dòng này, ở đâu đó trên kia chắc anh ngượng lắm. Kệ. Cứ viết. Tôi còn nhớ, cách đây mấy chục năm, trong một bữa cơm văn bút tại Washington D.C. Tôi lúc ấy lính mới tò te vào làng văn, từ Paris sang. Lê Ðình Ðiểu đã là nhà báo thời danh, từ Cali lại. Gặp nhau lần đầu, anh tự nhiên như đã quen từ lâu lắm. Cười cười, tôi đọc:
 Ðời tổng hợp bởi muôn nghìn mặt phẳng
Mà tình ta là quỹ tích không gian.
Kiếp nhân sinh những hàm số tuần hoàn
Quanh quẩn chỉ trong một vòng lượng giác.
Anh không muốn cuộc đời toàn sin cos
Sống khép tròn công thức cộng nhân cung
Cạnh góc đời ôi phức tạp vô cùng
Mà hạnh phúc chính là đường biểu diễn
Sống yên bình chờ dòng đời tịnh tiến
Ðâu phải là nghiệm số của lòng trai
Anh muốn lên tận cực của thiên tài
Ðể đo lấy bán kính trần gian vũ trụ... (Tình Toán Học)
 Còn mấy câu sau cùng, tôi quên rồi, ông nhớ không? Tôi hỏi. Anh bối rối. Mặt đỏ bừng, một dòng sáng long lanh chảy trong mắt. Không lắc. Không gật. Tôi bực, hơi gắt: "Thơ mình mà cũng quên?". Bấy giờ anh mới lừng khừng: "Thế à? Chịu." Không phủ nhận. Không xác nhận. Tôi đâm ngờ vực ký ức: Hay mình nhớ nhầm? Hay không phải thơ hắn? Có đâu mà lầm. Rõ ràng "tác phẩm bất hủ" của Lê Đình Điểu hồi đó mà những đứa học ban B đều thuộc lòng: Mỗi câu có ít nhất một từ toán, đặt đúng chỗ, đúng nghiã, rất đắc địa. Bài thơ đăng trên báo xuân Chu Văn An, tờ báo bán chạy nhất trong các tờ xuân học trò. "Kiệt tác" của Lê Đình Điểu được nhiều đứa chép lại trong sổ tay như kinh thi, như sở từ. Và "kiệt tác" đã theo du học đi xa. Từ hơn 30 năm nay, mình vẫn nhớ thơ hắn. Phải là thơ hắn, "ngôi sao văn đàn" thời đó. Nay gặp đích mặt, phải hỏi hắn mấy câu cuối, để chép vào ký ức dở dang. Gặp. Hắn chối. Như chưa bao giờ làm thơ. Như một kỷ niệm chưa bao giờ hiện hữu. Như một Sàigòn văn nghệ học sinh toán loạn "đầy sức sống" những năm 60 chưa bao giờ có thực. Như những tập báo xuân Chu Văn An chưa bao giờ được in ra...
 Mà làm sao xóa được. Cả đám học trò con gái thời đó đều "nhất trí" rằng bọn "Chu Văn Ôn" tuy có ăn phải cái bả Trứ-Quát "thông minh nhất nam tử, yếu vi thiên hạ kỳ", có trót làm những câu thơ huênh hoang nhảm nhí "viết ngang trời ba chữ Chu Văn An", bọn đó nhiều tội lắm, nhưng chúng cũng có chút tài mọn, ít ra là tài làm báo Xuân, hay hơn bọn con gái. Cứ đến những ngày gần Tết là chúng lại hì hục đem báo Xuân vào trường con gái bán. Không chỉ bán báo mà lợi dụng tình thế làm quen, dăm ba tên lăm le chờ chực cổng trường để hộ tống (xe đạp) giai nhân xa giá. Ở chỗ đó, Thầy Nguyên Sa của chúng đã đi guốc vào bụng học trò: Nàng đến gần tôi chỉ muốn quay đi, cả những giờ bên lớp học trường thi, tà áo khuất thì thầm chưa phải lúc...
Thời đi học trôi nhanh, chúng tôi mỗi người một ngả, không còn dịp gặp lại tuổi học trò. Ngoài Tình toán học, Điểu có nhiều bài thơ ký tên Y Dịch, thỉnh thoảng đăng đâu đó.
Trong tập Lưu bút ngày xanh, tôi chép hai bài thơ Y Dịch, nhưng không đề tên. Thơ trong Lưu bút ngày xanh có lệ không ghi tên tác giả. Nghiã là dù anh là Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, hay Huy Cận gì, đối với chúng tôi cũng như nhau tuốt. Câu thơ nào chúng tôi thích thì chúng tôi chép, không cần biết tên tác giả. Và đã được chép vào Lưu bút ngày xanh là hân hạnh lắm vì chúng tôi sẽ nhớ suốt đời.
Lưu bút ngày xanh rồi cũng phôi pha, thất tán, trong ly hương, mấy ai còn giữ, nhưng phần lưu tâm khó tuyệt bản trong lòng.
Hôm chị Ðiểu gửi tặng tập thơ Y Dịch, tôi tình cờ tìm thấy trong Chiều Mimosa, những câu thơ đã được mình "tuyển" vào lưu bút:
Ta ngồi đây nhìn chiều hồng nhẹ chết
Áo hoàng hôn trùm kín không gian sầu
Ôi mắt em bụi đêm mờ lấp cả
Phút giây sau tìm chẳng thấy chiều đâu (Chiều)
 Bài Mimosa dài hơn, có đoạn tôi đã chép lên trang đầu làm lời "tựa" cho tập lưu bút.
Người đã yêu ai? mười lăm hay mười sáu
Muốn ngỏ lời bằng lưu bút ngày xanh
Bằng trang thư màu tím giấy mong manh
Nhưng vẫn ngại, vẫn run, hay vẫn thẹn?
Ôi, đắm say tuổi yêu đương hò hẹn
Xin mách người hãy thổ lộ bằng hoa.
Xin mách người một đóa Mimosa
"Tình thứ nhất và từ lâu câm nín" (Mimosa)
Mimosa Y Dịch là đóa mimosa đầu tiên của tuổi trẻ. Sau này trên đường đời tôi còn gặp nhiều mimosa khác, sâu sắc và đớn đau hơn, nhưng đóa hoa đầu được "tuyển" vẫn đẹp như một di tích cảm xúc nguyên khai, như một lựa chọn lâu dài cho thời còn lại.
Thơ học trò của Y Dịch đậm dấu Nguyên Sa. Những bài Mimosa, Giãi Bày, Chiều Tưởng Nhớ, Khi Em Chết, ... mang dư âm Cần Thiết, Tuổi Mười Ba... bởi tuổi học trò cần những bài thơ như thế, nhiều bài như thế, của một tác giả học trò:
 Cho dáng em đi tha thướt trong chiều thu
 Cho môi em buồn cho mắt em thơ
Ðể anh xuyến xao suốt ngày bỏ bê sách vở (Giãi Bày)
Chùm hoa học trò của Ðiểu không phải là không có những câu thật hay, thật sâu, thoát khỏi ảnh hưởng của thầy để trở thành thơ Y Dịch trọn vẹn: "Dăm bông nở muộn lạnh lưng nhà", đẹp như một vọng ảnh xót xa, một bức tranh buốt giá.
Rồi những khổ đau đã thấm dần vào thơ. Y Dịch bỏ không gian mười tám, để trầm mình dưới những đợt sóng ngầm trong huyết quản, lạc loài và ngơ ngác:
 Tỉnh ra trên một chuyến tầu
 Giật mình vội hỏi đi đâu bây giờ?  (Hiện Kiếp)
  Hiện Kiếp viết từ hồi trẻ mà đã từng trải, đã có những trăn trở bao trùm cả một kiếp người:
 Mưa nghiêng mặt lộ đèn buồn
 Hàng cây tức tưởi linh hồn nước dâng
 Trán nhăn hiện kiếp một vầng
 Ðường không dưng chắn mấy tầng building.
 Ðiệu buồn bốc tự tay xanh
 Hay từ vô thức một mình đi hoang?
 Mưa nghiêng mặt lộ đèn vàng
 Những luồng bên ấy thổi sang bên này
 Ði về đâu nốt đêm nay
 Ði về đâu nốt kiếp này người ơi? (Hiện Kiếp)
Năm 60 cũng là năm Điểu viết nhiều thơ nhất. Có lẽ vì báo xuân Chu Văn An bán chạy, anh được nhiều nàng ngưỡng mộ, lên tinh thần. Có lẽ vì lúc đó anh đang yêu. Có lẽ vì... hàng trăm lẽ nhưng chỉ biết sau này vào đời, anh ít làm thơ, hầu như không làm thơ nữa, trừ một vài bài tặng vợ, chung tình và tha thiết:
 Nợ em một sáng mù sương
 Một trưa lộng gió, một đường lá bay
 Nợ em hơi ấm bàn tay
 Nợ em tóc xõa phủ đầy vai đêm. (Nợ Em)
 Bài Mê Cuồng Ca chắc chắn anh đã chịu ảnh hưởng của Ðinh Hùng. Nhưng từ Mê Hồn Ca Đinh Hùng, Y Dịch đã tạo được những mê cuồng đớn đau, hoang lạc rất lạ trong âm thanh và cảnh sắc:
 Nghe rùng mình nghiến xiết điệu ca xanh
 Ứ đọng thời gian gió dựng mây thành
 Nghe nhón bước mà bỗng dưng vắng ngắt
 Lá không trở mình hoa vàng nín bặt
 Áo liêu trai nửa vạt xõa sương lu
 Nghìn lối đi bạc trắng những sa mù
 Trong ớn lạnh trở mình quên tất cả. (Mê Cuồng Ca)
 Ở bài Tóc, vẫn thấy ảnh hưởng Đinh Hùng, nhưng những ngọn triều dâng trong thể xác đã trở thành một thứ ma quái khác:
 Và sẽ nuốt mây đêm đồi núi cũ
 Nghe tê mê rờn rợn suốt làn da...
 Trong khi đêm hờ hững phủ da ngà
 Hồn ngất lịm, gục đầu trên mái tóc. (Tóc)
 Giang hồ, cõi chết, mộ sâu... là những nét chính trong thơ Lê Đình Điểu. Y Dịch là Tay Ði, Tên Ði, Kẻ Ði. Người con trai mười lăm, mười tám ấy, lấy tên Y Dịch, vì ôm mộng giang hồ như Nguyễn Tuân. Không biết trong thực tế, Ðiểu có đi nhiều, nhưng thơ anh chìm đắm trong một chữ đi. Thế giới viễn du trong tưởng tượng của cậu trai hai mươi ấy, là hành trình vào gian nan tìm mất mát:
 Tầu nhổ neo rồi đưa người đi
 Cây bờ sông xõa tóc quay về
 Người đi nao nức khung trời lạ
 Bỏ lại đằng sau một-cái-gì? (Khởi Hành)
 Bên cạnh nỗi "đi" là nỗi "buồn" và nỗi "chết". Tất cả giao nhau trong những ngõ hẻm thị thành, đen sâu, ngậm ngùi, chói buốt:
 Bước chân chập chững đường lầy
 Áo bay nửa vạt gót giầy bâng khuâng.
 Ðiệu liêu trai rỏ thì thầm
 Xòe que diêm lại tối tăm hơn nhiều. (Buồn Kinh Ðô)
 Sắc sầu trong thơ Y Dịch chỉ là những biến sắc, lạc sắc của cuộc đời. Và hiện sinh chỉ là con đường đi về mộ tối:
 Nằm sâu nghe điệu tạ từ
 Tiếng côn trùng cũng là hư không rồi
 Lửa xanh còn chút này thôi
 Thắp hồn thơ sáng lướt ngôi mộ tàn
 Có gì đâu chuyện thế gian
 Tỉnh trăm năm vẫn trắng bàn tay mơ. (Hiện Sinh)
 Thơ Y Dịch đi từ hồn nhiên trong sáng đến bi quan, u tối, đêm, mộ, như một tất yếu. Sau khi anh mất, tôi mới biết bài Tốt Ðỏ, Tốt Ðen là của Y Dịch. Bài này đám học trò Chu Văn An cũ chuyền tay nhau, thu băng với giọng ngâm truyền cảm của một anh học trò đã thành thượng tọa. Bài này là một truyện thơ, thơ học trò, tự nhiên, vào đề là lời đối thoại của hai đứa trẻ:
 - Tốt đỏ mà đè tốt đen
 Kết nhất bội nhị là em phải đền.
 - Ứ ừ người ta đang đen,
 Không thèm chơi nữa, giả tiền tôi đây.
 - Ơ ơ, bêu chửa cô này
 Bị đè còn khóc giơ tay đòi tiền
Hoạt cảnh đánh tam cúc trong ngày Tết đang bày ra sôi nổi, vui tươi, chí chóe, anh được, em thua, cãi nhau, giận dỗi, dỗ dành... Tự nhiên Y Dịch ném vào một câu thực lãng mạn: Mắt em như có sương mù đọng mi. Và từ đây là gian nan, là tan vỡ: Chiếu xô, bài vỡ. Tạ từ thơ ngây để vào đời: Ván bài đời có tốt đen, trăm lần để kết phải đền cả trăm. Rồi họ xa nhau. Trong bao nhiêu năm? Mươi năm? Mười năm? Tình cờ gặp lại trong một ván bài khác:
Chiếu điều lại giải ra ngồi
Cỗ bài sắp lại, em ngồi tay trên
Tha hồ để kết tốt đen
Anh chui tốt đỏ cho em đây này.
Run run ép chặt bàn tay
Sợ làng bắt được biết ngay ... chúng mình.
Anh chui cho lấp điêu linh
Anh chui cho hết lênh đênh cuộc đời...
Bài thơ làm năm 57, ở tuổi hai mươi, anh đã muốn kết toán đời người. Nay anh đã xa, mỗi lần nhẩm lại những khúc độ đau thương ấy, tôi vẫn thầm hỏi Ðiểu: Thơ ông đấy à? Và như thường lệ, anh lại trả lời bằng mắt. Không lắc. Không gật. Lại hỏi: Sao chui sớm thế? Sao lại ra đi? Điểu vẫn làm thinh.
Những người thân của tôi ra đi đều thế, không ai trả lời về việc bên ấy. Khi còn bà Lựu, tôi thường dặn: Khi nào bà đi, nhớ về báo cho cháu biết tình hình bên ấy nhá. Bà gật: Ừ, bà sẽ tìm cách. Nhưng từ hồi ấy không thấy bà về lần nào. Chắc không có cách.
 Anh Tạ Trọng Hiệp, hình như biết trước nên không hứa gì. Trước hôm đi, anh vẫn còn nhắc: Hôm nay thứ tư, TK không đi trông cháu còn vào đây làm gì? Anh nhớ thời biểu của anh, của bạn anh đến chót, anh giữ lễ đến phút chót. Không rên la. Mặc dù đớn đau khủng khiếp. Anh đi như bậc túc nho, coi cái chết nhẹ như cánh lông hồng.
 Ngọc Khôi thì không muốn chết. Em sợ lắm. Trên gò má, trũng mắt, những cơn đau đẽo dần em. Trùng nuốt dần em. Ba tháng cuối, hầu như mỗi ngày em đều nắm chặt tay tôi vặn hỏi: Tại sao em phải chết? Em chưa muốn chết. Chết là như thế nào? Làm sao trả lời em được. Chị đã chết lần nào đâu. Mà chị còn phản bội em. Cầu cho em thoát nạn. Chóng đi. Chóng dứt. Em đi rồi, chẳng thấy về nói cho chị biết chết như thế nào. Chắc không nói được nên ai cũng làm thinh.
Với Lê Đình Ðiểu, câu chuyện hơi khác. Tôi ở xa. Thỉnh thoảng hỏi thăm qua điện thoại. Thường được anh trấn an: Tôi đang đổi thuốc. Ðau còn chịu được. Mọi việc đều đã sắp đặt xong. Nhưng tiếng Rồi mạnh mẽ, quen thuộc của Ðiểu mỗi ngày một vắng. Ngày trước, mỗi lần nhờ anh việc gì, khi trong điện thoại vang lên một độc âm Rồi dứt khoát, là biết việc đã xong. Tôi đã gặp Rồi trong văn chương Bình Nguyên Lộc, rồi Võ Phiến. Ngoài đời chỉ có một Rồi của Ðiểu. Rồi của tình bạn, Rồi sống với nghĩa, tín. Nay Rồi đã đi xa, không còn vang lên nữa... Anh chui cho lấp điêu linh. Anh chui cho hết lênh đênh cuộc đời. Điểu ơi, sao chui sớm thế?  Anh đi thuyền lướt vào đêm, chúc anh thuận buồm xuôi gió.
 Nửa khuya sông bạc sa mù
 Con thuyền mất hút nghìn thu khôn tìm.
Thụy Khuê
Paris 30/8/2000- 30/1/2011- Tết Tân Mão

© Copyright Thuy Khue 2000, 2011

 - Tốt đỏ mà đè tốt đen
 Kết nhất bội nhị là em phải đền.
 - Ứ ừ người ta đang đen,
 Không thèm chơi nữa, giả tiền tôi đây.
 - Ơ ơ, bêu chửa cô này
 Bị đè còn khóc giơ tay đòi tiền
                                                      Y Dịch
Tác giả bài thơ là người Bắc và con nít thời xưa có những trò chơi địa phương nên người Bắc sinh ra ở miền Nam cũng khó mà biết những trò chơi như Tam Cúc là gì.( theo tôi đóan thôi vì chưa được nghe nói đến bao giờ, mãi đến khi được đọc bài viết này đây)
Để trả lời câu hỏi của anh Ngu Vu tôi xin post thêm phần tìm thấy trên net về Tam Cúc, hy vọng đã làm sáng tỏ thêm phần nào những câu anh hỏi.
Đọc thấy trong bài viết của chị Thụy Khê là dân Chu Văn An biết, hay chuyền tay nhau ngâm và họa bài thơ này thì xin anh Ngu Vu nếu biết thêm về những trò chơi con nít ngày xưa thì bổ túc thêm cho mọi người được học hỏi. Cám ơn anh.
Riêng tôi vì đọc thơ nghe vần điệu hay, ý thơ lạ nên tôi post bài này chứ không biết là trò chơi này theo Bách Khoa Toàn Thư là chỉ dành cho con gái chơi với nhau mà đàn ông, con trai thì chơi Tổ Tôm.
Caroline Thanh Hương

Tam cúc

Bách khoa toàn thư mở Wikipédia
 photo 250px-Tam_Cuacutec1.jpg
Cỗ bài Tam Cúc
Tam Cúc là tên một trò chơi bài lá dân gian phổ biến ở miền Bắc Việt Nam. Tam Cúc là thú chơi của tầng lớp bình dân và được nhiều tầng lớp chơi vì luật chơi khá đơn giản. Tam Cúc không chỉ được chơi khi giải trí, rỗi rãi mà trong các ngày lễ, Tết, nó cũng là trò chơi không thể thiếu. Người dân đồng bằng Bắc Bộ thường có tập quán chơi Tam Cúc trong lúc đợi nồi bánh chưng chín. Tuy nhiên, đối tượng chủ yếu chơi Tam Cúc vẫn là phụ nữ vì Tam Cúc có số bài ít, còn nam giới thì chơi Tổ Tôm nhiều hơn.[1]

Mục lục

Quân bài

Tam cúc
Bộ bài Tam Cúc có 32 lá bài gồm hai loại quân là quân đỏ và quân đen gồm 16 quân đỏ và 16 quân đen. Mỗi loại gồm các quân tướng (將 vẽ hính vị tướng ngồi ghế có cờ cắm sau lưng), sĩ (士 vẽ hình vị quan đội mũ cánh chuồn có một em bé đứng khoanh tay ở phía sau), tượng (象 có vẽ hình con voi), xe (車 có vẽ hình cỗ xe với ba khối màu đỏ, xanh, vàng), pháo (砲 có vẽ hình khẩu thần công), mã (馬 có vẽ hình con ngựa), tốt (卒 có vẽ hình người lính cầm thanh đao). Trong một bộ màu đỏ hoặc đen thì trừ tướng chỉ có 1 lá và tốt có 5 lá mỗi loại quân, các quân khác đều có 2 lá. Quân bài Tướng của loại quân đỏ được gọi là "tướng ông". Quân bài Tướng của loại quân đen được gọi là "tướng bà". Quân bài Sĩ của loại quân đỏ được gọi là Sĩ điều. Còn các quân khác đều gọi theo tên kèm màu sắc của loại quân. Số lượng và quân bài khá giống như các quân trong cờ tướng.
Lá bài làm bằng bìa mỏng, hình chữ nhật dài và hẹp có nền màu trắng, ở trên có ghi các tên bài bằng chữ Hán màu đen (quân đỏ có đóng dấu màu đỏ) và có hình minh họa. Mặt sau thì giống hệt nhau cho cả 32 lá bài.

Mục đích chơi

Người nào có số lượng lá bài thắng nhiều nhất thì người đó xếp thứ nhất và tiếp theo đến người thứ hai, thứ ba..

Khái niệm

  • Bài Tam Cúc được phân định lớn nhỏ như sau: Tướng > Sĩ > Tượng > Xe > Pháo > Mã > Tốt.
  • Các quân bài cùng tên thì giá trị quân đỏ lớn hơn quân đen.
Như vậy:
Quân bài lớn nhất trong bộ bài tam cúc là quân tướng ông.
Quân bài nhỏ nhất trong bộ bài tam cúc là quân tốt đen.
Quân tượng đen lớn hơn quân pháo đỏ.
  • Các bộ quân trong bài:
Bộ đôi: Hai quân bài cùng màu, cùng tên như đôi Sĩ điều, đôi Pháo đen...
Bộ ba: Ba quân Tướng-Sĩ-Tượng, Xe-Pháo-Mã cùng màu. Nhưng Sĩ-Tượng-Xe hay Tượng-Xe-Pháo thì không phải là một bộ ba.
Tứ tử: Bốn quân Tốt cùng màu.
Ngũ tử: Năm quân Tốt cùng màu.

Cách chơi

Tam Cúc có thể được chơi 4 người, 3 người hoặc 2 người. Nhưng nếu chơi ba người thì phải bỏ đi 1 con Tốt đỏ và 1 con Tốt đen hoặc bỏ đi 5 quân: Tướng ông, tướng bà, 1 sĩ điều, 1 sĩ đen và 1 tốt đen.
Ban đầu, một người sẽ trộn bài và một người bắt cái. Cái sẽ được tính bằng cách đếm theo chiều tay phải của người bắt cái và đọc lần lượt từ Tướng->Sĩ->Tượng->Xe->Pháo->Mã->Tốt. Lá bài được bắt cái có tên là gì thì việc đếm sẽ dừng lại ở người tương ứng với tên bài đó. Nhà cái sẽ được ra bài đầu tiên và được chia bài đầu tiên. Khác với bài Tứ Sắc, các quân bài được chia hết cho tất cả mọi người tham dự chiếu bài.
Người có cái sẽ ra bài đầu tiên và gọi bài. "một cây", "đôi cây" hay "ba cây"... được gọi thì những người chơi còn lại sẽ tương ứng cho ra số cây bài của mình. Các cây bài được ra với mặt phải (mặt có ký hiệu quân) được giữ kín và úp xuống chiếu bài. Khi mọi người đã ra đầy đủ bài thì người gọi bài sẽ lật bài đầu tiên rồi theo thứ tự những người bên cạnh, ai có lá bài có giá trị lớn nhất thì người đó được bài và giành cái. Tuy nhiên, tất cả mọi người được phép chui bài bằng cách chịu thua và không lật bài lên để khỏi lộ bài. Các bài thu bị gọi là rác và bị bỏ đi.
Đặc biệt:
Vì trường hợp một người có Ngũ tử hoặc Tứ tử hiếm khi xảy ra nên nếu chơi 2 người hoặc 4 người thì "Tứ tử trình làng", hạ nhóm quân Tứ tử đó xuống chiếu và được ăn, nhưng không được làm cái. Nếu có Ngũ tử thì có quyền cướp cái và trình làng bất cứ lúc nào. Nếu chơi 3 người thì có Tứ tử cũng sẽ được trình làng bất kỳ lúc nào và cướp cái. (Chơi 3 người không có Ngũ tử vì thiếu 2 con Tốt đỏ và Tốt đen).
Đến vòng bài cuối cùng trước khi hết quân, người cầm cái gọi đôi Tốt đen (nhóm quân có giá trị thấp nhất trong bài), nếu thắng thì được gọi là kết đôi, nếu cuối bài mà gọi được 3 xe pháo mã đen hoặc xe pháo mã đỏ (nếu người này có xe pháo mã đen để kết mà người kia có xe pháo mã đỏ để ăn thi được gọi là đè) thì được gọi là kết ba.
Tuỳ từng nơi chơi, từng hội chơi mà giá trị kết đôi hay kết ba được tính thêm điểm vào lúc tổng kết cuối mỗi ván chơi. Việc "đi đêm" cũng có nhiều hội chơi sử dụng, đó là cách tráo đổi quân giữa những người chơi sao cho có lợi cho cả hai bên để được nhiều nhóm quân hơn. Khi "đi đêm", các quân bài được úp mặt phải xuống chiếu để đảm bảo tên các quân tráo đổi được giữ kín.

Các từ ngữ có nguồn gốc xuất phát từ Tam Cúc

  • Đi đêm.
  • Tứ tử trình làng.
  • Ngũ tử cướp cái

Trong văn học

Nhà thơ Hoàng Cầm có bài thơ về Cây Tam Cúc nổi tiếng và sau này được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc:
...Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa
Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì...
...Em đi đêm tướng điều sĩ đỏ
Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em...
...Thả tịnh vàng cưới Chị võng mây trôi
Em đứng nhìn theo Em gọi đôi.
...Từ đó mỗi mùa đào nở
Pháo xe lại rộn cây bài
Có độ anh về, có độ
Vắng anh, em nhớ mong hoài...
Đây là tướng ông
Chân đi hài đỏ
Đây là tướng bà
Tóc hiu hiu gió
Đây là con ngựa
Chân có bụi đường

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ “Hướng dẫn chơi Tam Cúc”. gamevh.net. Truy cập 21/8/2015. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)

Liên kết ngoài

dimanche 12 juin 2016

Groupe Hương Xuân 2016 giới thiệu chương trình, thơ, nhạc, bài viết, bài sưu tầm của bạn hữu.

Kính gửi quý anh chị chương trình thơ, nhạc, hình ảnh, bài viết và bài sưu tầm của groupe Hương Xuân 2016.

Cám ơn quý chị Sương Lam, Người Phương Nam, chị Cathy, chị Miss Sài Gòn, anh Đỗ Quý Bái, Con Cò Thơ, anh Tha Nhân, anh Nguyễn Mạnh Hùng, anh Nhất Lung, anh Khải Trần,anh LMST đã đóng góp nhiều bài thơ, nhạc, bài sưu tầm bài viết cho groupe nhà.

Caroline Thanh Hương

 photo ve-da-keu-tren-nhanh-phuong-vi-co-ai-bang-khuang.jpg

HÈ XƯA TƯỞNG NHỚ
 Sáng tác: Nguyễn Mạnh San. Tiếng hát: Lê Anh, 
slideshow: Duy Hân
ooooo





Vòng quay của bánh xe xích lô ở Sài Gòn ấy vậy đã ngót gần 80 năm nay. Nhưng rồi những phương tiện hiện đại được thay thế, nhịp sống hối hả hơn, người dân thành phố họa may lắm mới bắt gặp được hình ảnh những chiếc xích lô trên phố. 

  photo 1_10.jpg

 Xích lô vốn là phương tiện phổ biến ở Sài Gòn thập niên 40 - (Nguồn ảnh: LIFE)
Lo sợ một Sài Gòn không còn xích lô

Một ngày đầu tháng 12, chúng tôi có dịp ghé lại khu chợ Tân Định (quận 1, TP. HCM) một trong những ngôi chợ lâu đời và nơi đây cũng là nơi mà những người đạp xích lô thường tập trung lại với nhau để trò chuyện sau một ngày làm việc mệt nhoài.
“Có lẽ những người đạp xích lô cuối cùng còn xót lại là chúng tôi. Ở cái chợ Tân Định này, những người đạp xích lô ai cũng đều có thâm niên 50 – 60 năm rồi”, người lao phu chia sẻ trong lúc ngồi chờ khách.
Người lao phu ấy tên Trung Văn Lai (75 tuổi), ông là người già nhất trong số những người đạp xích lô mưu sinh ở Sài Gòn. Rời quê Mỹ Tho (Tiền Giang) lên Sài Gòn sống bằng nghề đạp xích lô đã hàng chục năm nay ở chợ Tân Định, nên khi hỏi thăm về ông, ai ai cũng biết. Mỗi buổi sáng sớm, sau khi thưởng thức ngụm trà nóng, nhấm nháp vị cà phê đắng cùng hơi thuốc, ông lão và chiếc xích lô lại phải quần quật làm việc cho đến tận khuya.
  photo 2_10.jpg
 Ông Trung Văn Lai nhọc nhằn kéo xích lô về vỉa hè quen thuộc để chờ khách.
  photo 3_10.jpg
 Gương mặt khắc khổ theo năm tháng với nghề xích lô của người lao phu già.
Ông Lai chia sẻ: “Cũng quen rồi, cuộc sống của tôi gắn bó với con ngựa sắt này đã mấy chục năm nay, mặc dù thời cuộc có thay đổi, sự lam lũ vẫn kéo dài nhưng tôi vẫn yêu nghề vì cảm nhận được sự bình dị của người Sài Gòn. Sáng giờ có 2 cuốc (chuyến) được mười mấy nghìn, nhưng cũng vui vì ít nhất còn có khách cần đến mình”.
Nói vừa dứt lời ông rít điếu thuốc và thở một hơi thật dài rồi tiếp tục câu chuyện: “Càng ngày khách cứ ít dần, dường như không còn ai muốn đi xích lô nữa rồi. Cả khu vực chợ này chỉ tầm vài người còn hành nghề như tôi”.
Theo lời ông, khách đi xích lô thường là những người nội trợ đã thân quen trong suốt mấy năm qua. Họ chọn người lao phu già nua với dáng người nhỏ thó, đôi chân run run nhưng vẫn đứng vững để đạp xe đưa khách đi đến những nơi cần đến. Ông không ngả giá vì khách quen. Có người khách quen ở tận quận Gò Vấp nhưng ông vẫn nhận chở, mặc dù rất tốn sức nhưng nhờ mối đi xa mà ông mới có đồng ra đồng vào.
  photo 4_10.jpg
 Ông Lai đang chở khách dưới cái nắng khá gắt ở Sài Gòn của tháng cuối năm.
“Tôi thấy những người đạp xích lô ở đây đều đã lớn tuổi nhưng hằng ngày vẫn gồng mình đạp xích lô thấy tội lắm. Nhiều lúc thấy mấy ổng ngồi nheo mày đợi khách mà xót, nên mỗi ngày đi chợ tôi bắt mối chở đi coi như giúp phần nào trong công cuộc mưu sinh. Mà cũng lạ nghen, tại sao lại cấm xích lô hoạt động nhiều chứ, nó cũng là một nét văn hóa của Sài Gòn mà”, một người khách quen của ông Lai chia sẻ.
Với kỹ thuật hiện đại vận chuyển bằng cơ giới ngày nay, người ta dường như bỏ quên những giá trị đã từng làm nên một nét đặc trưng riêng và chiếc xích lô đến một lúc nào đó sẽ không còn ở Sài Gòn nữa.
Đang trò chuyện cùng ông Lai, một người bạn của ông trong nghề, đạp chiếc xích lô thong dong từ quận Phú Nhuận về với mồ hôi nhễ nhại hỏi: “Sáng giờ có cuốc nào chưa ông? Được 2 cuốc ngắn hà, còn ông? (ông Lai đáp). Tôi cũng được 3 cuốc nhưng đường xa quá, hơi mệt vì cũng già cả rồi”. Sau đó 2 bạn già mời nhau điếu thuốc, châm đỏ lửa tiếp tục ngồi chờ khách.
Trong tương lai, người Sài Gòn có còn được nhìn thấy những người đạp xích lô trên phố nữa không?
  photo 3_10.jpg
Chỉ có những "triệu phú thời gian" mới chọn xích lô chậm chạp mà đi
Ông Lê Văn Ngà (65 tuổi) người bạn trong nghề của ông Lai đạp xe xích lô từ trước năm 1975 đến nay. Ông Ngà tâm sự rằng, cuộc sống xô bồ hiện nay đã dần mất đi một phần nào đó giá trị văn hóa của người Việt nói chung và người Sài Gòn nói riêng.
"Xe xích lô nó không gây ồn ào như các loại xe có động cơ, nó giữ môi trường trong sạch so với xe ngựa hồi trước kia. Xích lô ngày xưa là phương tiện đi lại không thể thiếu được của những người giàu ở Sài Gòn. Thời kỳ đó quá ít xe máy, ô tô nên xích lô rất thịnh trị, được tung hoành khắp phố phường. Thời đó nhiều người đã sống "khỏe" với nghề xích lô này, còn bây giờ thì chỉ đủ kiếm cơm qua ngày”, giọng ông Ngà trầm ngâm.
Còn ông Lê Văn Ý (56 tuổi) một dân gốc Sài Gòn vì thế cũng có thể hiểu rõ được giá trị của xích lô đã tạo nên những nét đặc trưng của vùng đất này như nào. Ông Ý kể: “Xưa kia, người đi xích lô có 2 dạng, 1 để thưởng ngoạn cảnh sắc của thành phố hòn ngọc viễn đông, 2 là đi vì có công chuyện gấp. Còn xích lô Sài Gòn bây giờ khác hẳn, ngoài chở người thì còn chở hàng như để bù đắp những lúc ế khách. Mà ngẫm nghĩ cũng đúng, Sài Gòn bây giờ đất chật, người đông, xe lắm, xích lô dường như không thể bon chen nổi với cuộc sống sôi động, nếu ai chọn xích lô là phương tiện chính thì người đó là “triệu phú thời gian”.
  photo 6_9.jpg
 Ông Lê Văn Ý vẫn lạc quan với nghề dù biết có thể trong tương lai xích lô sẽ không còn.
Đối với ông Linh, người từ vùng quê miền Trung lặn lội vào Sài Gòn sống bằng nghề đạp xích lô cũng đã mấy chục năm cho hay, trong hoàn cảnh nghèo túng, lắm người đi vào nghề đạp xích lô để lo cái ăn, cái mặc và ông cũng không phải ngoại lệ.

  photo 7_8.jpg
“Những ai không có việc làm chỉ cần bỏ ra một ít vốn nho nhỏ mua xe và đạp qua ngày. Nhưng đến hiện tại thì để trụ được với nghề xích lô là điều khó lắm, trong khi thành phố có quy định cấm nữa thì càng không biết phải sống làm sao. Một ngày nào đó sẽ vắng bóng những chiếc xích lô như thế này. Có thể chúng tôi là những người cuối cùng còn đạp xích lô nhưng sau khi già chết đi thì sẽ không còn đâu”, người lao phu nói xong lại lặng lẽ theo vòng quay bánh xe hòa vào dòng người đông đúc.
 Ông Linh đang đợi khách bên vỉa hè cùng những người bạn trong nghề.

  photo 8_8.jpg
 Về đêm, ông Ngà và những người xích lô cuối cùng ở Sài Gòn lại chọn góc nào đó để chợp mắt.
Theo Wikipedia, xích lô xuất hiện vào khoảng năm 1939. Chiếc đầu tiên do một người đam mê thể thao tên là Coupeaud phát minh ra. Phải vất vả lắm ông mới vận động Bộ Công chánh công nhận sáng chế và cấp phép lưu hành, sau khi đã tham khảo ý kiến của hai nhà vô địch Tour de France là Georges Speicher và Le Grèves. Nhưng rốt cục nó lại không trở thành phương tiện giao thông ở nước Pháp mà thành phố đầu tiên được cấp phép sử dụng loại phương tiện này là ở thuộc địa Phnompenh.
Từ Phnompenh, Coupeaud đã tổ chức một cuộc hành trình tới Sài Gòn. Hai người đạp thuê đã thay phiên nhau đạp một mạch gần 200 km hết có 17 giờ 23 phút. Số liệu thống kê cho biết, cuối năm 1939, Sài Gòn chỉ có 40 chiếc xích lô thì qua năm 1940, con số này đã là 200 chiếc.


TomMun · 17h37, ngày 07-12-2015
Mấy hôm trước, gặp 3 Cô ngoài Hà Nội vào Huế chơi, hỏi từ đường Bến Nghé qua Phố Đêm bao nhiêu? Mấy Bác bảo 20k/ người. Tức là đi 3 người 3 chiếc, còn không thì 2 người 1 chiếc 1 người còn lại 1 chiếc. Thì người 1 chiếc chỉ lấy 15k. Vậy mà 3 Cô U60 nói là 3 người 1 chiếc 15k đi không? Tội quá Cô ơi, Cô nặng trên 50kg mà đòi 3 người 1 chiếc, làm gì mà bòn rút sức người ta quá vậy Cô? Cháu ngồi trong quầy nghe Cô nói to tiếng mà như chửi bới người ta nhưng các Bác rất tội, cả ngày đi có được bao nhiêu đâu vậy mà nài nỉ, nói giá bèo còn đòi 3 người 15k 1 chiếc. Con tự nói trong lòng, Cô đi bộ cho có sức khỏe cũng được ạ! Thương mấy Bác đạp xích lô giữa trưa nắng, chở nặng lắm ạ! 


01627419643@ming.vn
nhím con · 14h37, ngày 07-12-2015 · Cà Mau
mình ở Nha Trang có mấy ông cũng già rồi mà 1 lần chở mà nhiều người cùng phóng lên thiệt không biết mẫy người đó nghĩ gì mà đi tiết kiệm với ông già rồi 


habi.fot@gmail.com
Mei Mei · 12h26, ngày 07-12-2015
Nhiều khi thấy các chú lớn tuổi không dám gọi vì sợ chú chở mình nặng đạp cực
Nhưng mà nếu không đi thì các chú không có thu nhập
Thương các chú  



0935178478@ming.vn
Thương_EXO Nhìu · 12h02, ngày 07-12-2015
bữa mình nhìn thấy có cụ đẩy xe xích lô chở mấy chục thanh gỗ mà trông đuối , mồ hôi mồ kê nhễ nhại thấy thương 



Cuối tuần thân mời Anh Đỗ Quý Bái và quí vị nghe thử ck LỜI HOA,
Thơ Lạc Thuỷ Đỗ Quý Bái, Trần chương Lương viết nhạc, Vo Công Diên hòa âm, và cs Quốc Duy trình bày, YT Phan Anh Siêu:


Nhân dịp TT Obama bỏ cấm vận vũ khí sát thương cho VN để nhận VN là một đối tác chống lại âm mưu xâm phạm biển Đông của Trung cộng, Con Cò trình diện các bạn bài Ó Vàng. Bài này Cò làm gần hai chục năm rồi, ngụ ý xưng tụng Hoa Kỳ. Chim ó được coi như chúa tể của loài vật vì nó ăn thịt được nhiều loại mà không một loại nào ăn thịt được nó (sư tử còn có khi bị cá sấu ăn thịt). Hy vọng lần này nó ăn thịt được Tập Cẩm Bình. Mời các bạn đọc.
Con Cò.

THƠ TẢ SÚC VẬT 1
Lời nói đầu
Những súc vật trong thơ Việt và thơ Hán từ ong, bướm, oanh, yến cho tới chó, ngựa, voi, cọp, sư tử….thường chỉ là những hình bóng rất sơ sài được mượn từ chúng để tả một vẻ đẹp, một âm thanh, một nỗi buồn, một kỷ niệm, một hào khí… .
Thế Lữ đã mượn tình cảnh của con cọp trong sở thú để nói lên nỗi lòng của người anh hùng sa cơ bị cầm tù:“Ngậm một khối căm hờn trong cũi sắt, Ta nằm dài trong ngày tháng dần qua...”.
Đỗ Phủ thì mượn vẻ oai dũng của chim ưng để vinh danh một bức họa.
Mục tiêu của bài Ó Vàng dưới đây, đi ngược với chiều hướng trên, không tôn vinh một thứ gì khác, chỉ mô tả chim ưng, con chim chúa tể của muôn loài.

Ó VÀNG
Con Cò
Mỏ cong vững như sừng tê giác.
Màu lông tô vàng choé ánh mặt trời.
Đôi cánh vỗ mưa văng gió táp.
Ngón chân rồng móng vuốt chẳng nhường ai.
Duới mắt ta:
Núi chưa cao, vực chưa sâu, bể chưa rộng, sông chưa dài,
Trăm thước đường mây mười lần vỗ cánh.
Xây tổ ấm không nề tuyết lạnh,
Đỉnh non cao ôm ấp trứng tơ.
Ta dạy con từ thuở ấu thơ:
Ra khỏi tổ là đời né tránh.
Đời phiá duới vải thưa che mắt thánh:
Con lươn chui trong sóng bạc đầu,
Con kên kên dơ bẩn để ruồi bâu,
Con sâu đo đo vài gang cỏ dại,
Loài rắn độc sống bằng cóc nhái,
Duới nhãn quang sắc bén của con ta.
Khi lớn lên bốn bể là nhà,
Và thích ứng với đời dâu bể.
Những bạn cũ ra đi lặng lẽ:
Lão đại bàng khuất dạng thiên thu,
Cô hạc thờ đội nến đền chùa,
Bác phượng hoàng cũng vào huyền thoại,
Chú đà điểu kéo xe tê dại,(1)
Một mình ta oai trấn giang hồ.
Ngàn năm xưa,
Tuyên dương ta hùng binh La Mã.(2)
Thế kỳ này,
Vinh danh ta đế quốc Hoa Kỳ.(3)
Đồng tiền vàng danh giá truớc kia,
Còn truyền tụng hình ta vung cánh thép.(4)
Trên phù hiệu võ quan khuôn phép,
Ta nhìn nguời nghiêm chỉnh gập tay chào.(5)
Sử xanh tuởng sắp đi vào,
Lại về như một vì sao trên trời.
Đường bay cao đẹp tuyệt vời,
Cao hơn tầm đạn của người manh tâm.

Cuớc chú:
Chim Ó (eagle), còn gọi là chim Ưng, một loài chim hiếm và hùng mạnh đã được dùng làm biểu tượng của nhiều quốc gia qua nhiều thời đại như quân hiệu của đế quốc La-Mã, quốc hiệu của Hoa-Kỳ, phù hiệu đại tá của quân đội Mỹ, đồng tiền vàng cổ có giá trị 10 mỹ-kim.
Đầu thế kỷ 20, tổng số chim tại Hoa-Kỳ chỉ còn chừng 300 con. Nhờ đạo luật cấm săn bắn ó vàng, số chim hiện thời lên tới 3000 con và chim đã thoát nạn diệt vong.
(1) Cho tới đầu thế kỷ 20 Hồng Kông vẫn còn dùng đà điểu kéo xe tay
(2) Ngày xưa Chim Ó là quân hiệu của đế quốc La Mã
(3) Chim Ó từng là quốc hiệu của Hoa Kỳ
(4) Đồng tiền vàng 10 đô la cổ xưa của Hoa Kỳ có hình chim Ó.
(5) Chim Ó hiện nay còn là phù hiệu đại tá của quân đội Hoa Kỳ.



Phụ bản

HỌA ƯNG
Đỗ Phủ
Tố luyện phong sương khởi
Thương ưng họa tác thù
Song thân tư giảo thố
Trắc mục tự sầu hồ
Điều tuyến quang kham trích
Hiên doanh thế khả hô
Hà đương kích phàm điểu
Mao huyết sái bình vu

Chú Giải:
Tố: lụa trắng. Thù: đặc biệt. Song thân: nép, nghiêng mình. Giải: gian hoạt. Trắc: nghiêng. Hồ: con khỉ. Điều tuyến: sợi dây tơ. Quang: sáng bóng. Trích: hái, rút ra mà lấy. Hiên doanh: nơi mái hiên. Đương= đang: đảm đương. Sái: rửa nước, tẩy. Bình vu: chỗ đồng cỏ bằng phẳng,bỏ hoang.

Dịch xuôi:
Sương gió nổi lên trên mảnh lụa trắng
Con chim ưng xanh được vẽ khéo vô cùng
Nghiêng mình như loài thỏ xảo quyệt
Liếc mắt như con khỉ buồn
Sợi dây tơ bóng như có thể sờ được
Trước mái hiên có cái thế bay vào khi được gọi
Bao giờ đánh tan bọn chim hèn
Máu lông sẽ tung tóe giữa đồng cỏ bằng phẳng

BỨC HỌA CHIM ƯNG
Con Cò
 Sương bay trên lụa trắng
Tuyệt tác chim ưng xanh
Nép mình như thỏ qủy
Gườm mắt khỉ buồn tình
Dây tơ dường hiện thực
Hiên mái chực vô nhanh
Chim hèn mà gặp mặt
Đồng cỏ loang máu tanh


 photo IMG_05181.jpg 


Người Phương Nam
  


Mung Sinh Nhat (Nhac Lmst - Tho The Nhan - Tieng hat Tam Thu - Hoa am Cao Ngoc Dung)

Nam Muoi Nam Tinh (Nhac Lmst - Tho Song Phuong - Tieng hat Thuy An - Hoa am Cao Ngoc Dung)
Tham Mai Tinh Ta (Nhac Lmst - Tho Tran Dinh Minh - Tieng hat Tam Thu - Hoa am Cao Ngoc Dung)
Thuong Nhau Suot Doi (Nhac Lmst - Tho Minh Ho - Tieng hat Kyra Nguyen - Hoa am Cao Ngoc Dung)
Bong Thoi Gian 1 (Nhac Lmst - Tho Van Y -  Trung Hieu/Thuy An - Hoa am Cao Ngoc Dung)
Nguoi Tinh Cuoi (Nhac Lmst - Tho Minh Ho/Minh Ho Dao - Tieng hat Quoc Duy - Hoa am Do Hai)
Se Mai La Em (Nhac Lmst - Tho Song Phuong - Tieng hat Tam Thu - Hoa am Cao Ngoc Dung)
Doi Giay (Nhac Lmst - Tho Le Tuan Dat - Tieng hat Kyra Nguyen - Hoa am Cao Ngoc Dung)